Thứ Hai, 22 tháng 12, 2025

Những Ngày Cũ – Nơi Hạnh Phúc Từng Có Mặt

 Cuộc sống hôm nay đủ đầy hơn xưa rất nhiều. Nhà cửa kiên cố, thức ăn dư dả, tiện nghi vây quanh từng sinh hoạt nhỏ. Thế nhưng, giữa sự thoải mái ấy, con người lại dễ đánh mất một cảm giác rất mong manh, vì sao con người càng đủ thì lại càng khó chạm vào hạnh phúc? Có lẽ bởi vì, hạnh phúc thật sự đã từng ghé qua đời tôi từ rất sớm – trong những ngày nghèo khó nhất, cảm giác được sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc – thỉnh thoảng vẫn quay về, không phải để làm tôi buồn, mà để nhắc tôi nhớ: hạnh phúc từng có mặt, rất khẽ, nhưng rất thật và cũng đủ để tôi hiểu được vì sao con người càng đủ thì lại càng khó chạm vào hạnh phúc? và rồi chúng ta phải trân quý hơn giây phút hiện tại.


Câu chuyện đời tôi thì khá dài nhưng hôm nay tôi sẽ kể về quãng thời gian sống dưới Vị Thủy cùng mẹ và các em. Mẹ tôi ngày ngày đi làm thuê, còn tôi – khi ấy còn rất nhỏ – đã quen với việc thay mẹ chăm sóc các em. Chúng tôi sống chen chúc trong một mái nhà, gọi là nhà thì cũng chưa trọn nghĩa vì nó là một cái chòi nhỏ thì đúng hơn, nhưng đó là nơi chứa đựng hơi ấm của cả gia đình tôi lúc ấy.

Niềm vui ngây thơ nhất của cậu em trai tôi – lúc ấy mới năm tuổi – là theo tôi ra những nhà xí dựng tạm trên sông. Người ta nuôi cá bằng phân người, và những con cá dường như rất “thông minh”. Chỉ cần nghe tiếng bước chân hay thấy bóng người trên cầu là chúng quây quần bên dưới, như thể biết mình sắp được ban cho một chút ân huệ. Em trai tôi cười vang, chọc ghẹo những chú cá, tiếng cười trong veo ấy đã làm sáng lên cả một tuổi thơ nhiều thiếu thốn. Em tôi cười, tiếng cười vô tư như chưa từng biết đến thiếu thốn. Trong khoảnh khắc ấy,có lẽ  nghèo không còn là nghèo – chỉ còn sự sống đang giao cảm với nhau.

Khoảng ba giờ sáng mỗi ngày, tôi thường giật mình tỉnh giấc bởi tiếng những người đồ tể mổ heo chuẩn bị cho buổi chợ sớm. Tiếng kêu xé lòng của những con vật vô tội đã gieo vào tôi cảm giác rờn rợn từ thuở nhỏ, đi theo tôi suốt tuổi thơ, để rồi lớn lên, tôi không còn thấy mình có thể ăn thịt một cách vô tâm. Không phải vì ghét bỏ, mà vì đã từng nghe quá rõ nỗi đau của sự sống bị lấy đi như thế.

Những ngày mưa lớn là ký ức tôi không thể nào quên. Mâm cơm đơn sơ của chúng tôi , nước mưa rơi thẳng vào chảo rau muống tôi xào trên bếp nấu bằng rơm khô mẹ tôi lượm về. Bữa cơm chỉ có một món rau xào tỏi, và chút mặn của muối thay cho những giọt nước mắm hiếm hoi. Nhưng chúng tôi vẫn ngồi ăn rất chậm, rất yên. Khi ấy, tôi không thấy mình đang thiếu thốn. Tôi chỉ biết mình đang được có cơm ăn, được ngồi cạnh mẹ và các em. Chừng đó đã đủ để một bữa cơm trở thành một kỷ niệm ấm áp trong ký ức của tôi rồi.

Cậu em kế tôi thì đi giữ em cho một gia đình khá giả trong vùng để kiếm thêm chút tiền phụ mẹ. Những ngày tháng ấy trôi qua lặng lẽ, bình dị và nhọc nhằn, không biến cố lớn, không tiếng than. Chúng tôi chỉ là sống – từng ngày một. Khi nghĩ lại, tôi không thấy mình từng khổ. Tôi chỉ thấy mình đã từng đi qua một đoạn đường sớm hơn người khác – đoạn đường của trách nhiệm, của thương yêu không lời. Bây giờ khi mẹ tôi đã qua đởi, tôi thấy lòng mình đầy biết ơn mẹ – vì đã được theo mẹ đi qua những vùng xa xôi ấy, được lớn lên trong trách nhiệm và thương yêu, được học cách chăm sóc người khác từ rất sớm.

Rồi cuộc sống đổi chiều nhanh chóng khi mẹ tôi tìm lại được bố – người đã di tản sang Mỹ từ năm 1975. Gia đình tôi trở về Sài Gòn, sống nhờ sự chu cấp của bố. Mẹ tôi khi ấy nhẹ gánh hơn, bà thường đi chùa, lặng lẽ cầu nguyện, không cầu giàu sang, chỉ cầu gia đình được gần nhau cho ngày cả nhà được đoàn tụ. Còn tôi, vì không có hộ khẩu Sài Gòn, cuộc sống vẫn đầy khó khăn, không chỗ đứng rõ ràng. Ơ tuổi mới lớn đã có những lần tôi cúi mặt xấu hổ vì không có nổi một bộ quần áo cho tươm tất.Người bạn thân duy nhất của tôi thường cho tôi mượn áo quần mỗi khi có dịp họp mặt bạn bè trong xóm. Tôi làm đủ thứ việc để tự lo cho bản thân, không dám đụng đến số tiền trợ cấp ít ỏi mà bố gửi về – vì tôi biết, số tiền ấy mẹ cần để lo cho các em hơn.

Rồi lời cầu nguyện của mẹ cũng thành sự thật. Tháng Bảy năm 1984, chúng tôi được đoàn tụ với bố tại Mỹ. Tôi rời Sài Gòn mà lòng không vương vấn – có lẽ vì những năm tháng sống trong nỗi lo sợ, bị đối xử như kẻ thù chỉ vì xuất thân gia đình miền Nam đã khiến tôi mệt mỏi từ rất lâu. Lúc ấy tôi cũng đã có người yêu. Tôi từng phân vân: có nên ở lại rồi đi sau, như các anh chị đã lập gia đình và ra đi theo cách riêng của họ? Nhưng tôi còn quá trẻ để tự quyết định số phận mình. Chúng tôi chia tay nhau bằng một lời hẹn ước chờ đợi. Rồi như lẽ vô thường của đời sống – hai năm sau, anh lập gia đình, vì là con trưởng, vì trách nhiệm. Tôi hiểu nên thường cũng âm thầm cầu chúc cho anh được hạnh phúc và không níu kéo. Chỉ thấy một mối duyên đã tròn vai trò của nó trong đời mình. Mọi dự định khép lại trong lặng lẽ.

Nhìn lại, những dấu chân trên dòng vô thường tôi thấy rõ lời Phật dạy đó là mọi pháp do duyên sinh, đủ duyên thì hợp, hết duyên thì tan. Không có gì sai, cũng không có gì mất – chỉ là mỗi người tiếp tục đi trên con đường riêng của mình.

Cuộc sống nơi đất Mỹ mở ra một đoạn đường mới, rất vất vả của những ngày đầu khi tôi phải học lại tiếng Anh để có thể kiếm được việc làm rất nhiều thử thách, và không ít những ngày tháng cô đơn. Nhưng đó cũng là nơi tôi hiểu sâu hơn về đạo Phật, về chữ buông, và về cách bước đi mà không chống lại dòng đời. Nhưng đó… là những  câu chuyện khác, nếu còn duyên, tôi sẽ kể tiếp. Không phải để than thở, mà để nhìn lại – và mỉm cười với những gì đã đi qua trong cuộc đời mình.

Thiên Lan

Cảm hứng khi đọc đoạn văn của người chị đã nhắc lại khoảng đời tuổi thơ tôi ơ Huế.. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thời gian không chờ đợi ai

 (Dưới ánh sáng Tứ Diệu Đế) Thời gian không dừng lại để chờ bất kỳ ai. Mỗi ngày trôi qua sẽ không quay lại. Mỗi hơi thở đi ra cũng không trở...