Thứ Năm, 10 tháng 10, 2024

Hạnh phúc trong từng bước chân

Trong một hội nghị ở Ấn Độ, có người hỏi tôi rằng: “Bạn có thể nói về ba bí mật của hạnh phúc không?”. Tôi đã trả lời: “Bí mật đầu tiên là không có bí mật nào cả. Thứ hai là không chỉ có ba bí mật. Và thứ ba là bạn phải dành trọn cuộc đời để thể nghiệm, nhưng đó thực sự là điều xứng đáng nhất mà bạn đã làm cho cuộc sống của mình”. Tôi rất vui khi cảm thấy bản thân đã và đang đi đúng hướng, cũng như hạnh phúc trong từng nhịp bước của chính mình. Cho đến bây giờ, tôi không còn có thể tưởng tượng được cảm giác ghét bỏ hay muốn ai đó phải đau khổ nữa.

Sức mạnh của lòng trắc ẩn


Tôi nhớ mình đã rời khỏi khóa tu trong vòng một năm để chăm sóc cho bố tôi và đồng thời phiên dịch cho Đức Dalai Lama ở Brussels. Khi tôi thưa với ngài những dự định của tôi và xin lời khuyên từ ngài, ngài đã nhấn mạnh với tôi rằng: “Ban đầu, hãy thiền quán về tâm từ; lúc giữa, hãy thiền quán về tâm từ; cuối cùng, hãy thiền quán về tâm từ”. Và tôi cũng đã thực hiện đúng như lời ngài dạy.

Tâm từ hay tình yêu thương là một đức tính phổ quát. Bởi đức tính này khác với những phán xét về đạo đức. Tình yêu thương sẽ không ngăn cản bạn đến bên cạnh một người có vấn đề về thần kinh, hay một người được xem là độc ác. Trái lại, tình yêu thương có thể chữa lành mọi khổ đau cho dù ở bất kỳ nơi đâu, đối tượng nào và bất kỳ hình thức nào. Vậy thì đối tượng của lòng trắc ẩn và tình yêu thương ở đây là gì?

Đó chính là sự thù hận và những hành động được sai khiến dưới quyền lực của nó. Ví dụ, nếu một ai đó cầm một cây gậy đánh bạn, thì bạn sẽ không phải tức giận với cây gậy, mà là tức giận với người cầm cây gậy đó. Những người mà chúng ta đang nói đến giống như những cây gậy và đang bị sự vô minh và thù hận cầm chắc trong tay. Chúng ta có thể đánh giá một người tại một thời điểm cụ thể nào đó, nhưng khi đem tình yêu thương và lòng trắc ẩn ra đối đãi, chúng ta luôn mong muốn rằng những điều đau khổ và nguyên nhân gây ra chúng sẽ có thể được khắc phục và loại bỏ hoàn toàn.

Nhưng làm thế nào để một người có thể bắt đầu thực hành quán chiếu và áp dụng lòng từ trong cuộc sống của chính mình? Đó chính là khi bạn đang ở trong một khoảnh khắc mà tâm trí của bạn tràn đầy tình yêu thương vô điều kiện, giả sử đối với một đứa trẻ chẳng hạn, điều này lấp đầy tâm trí của bạn trong 30 giây hay có thể là một phút. Tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm điều đó.

Sự khác biệt duy nhất là chúng ta phải cố gắng trau giồi đức tính này nhiều hơn nữa theo bất cứ cách nào có thể. Hãy kéo dài cảm giác này trong tâm lâu hơn một chút, cố gắng yên lặng quan sát và an trú trong đó khoảng 10 hoặc 20 phút. Nếu cảm giác này biến mất, hãy cố gắng mang nó trở lại, cung cấp cho nó “sự sống” và để nó hiện diện thường xuyên trong tâm bạn. Đó chính xác là nội dung của thiền định. Nếu bạn thực hành điều này trong 20 phút mỗi ngày, hay thậm chí trong vòng 3 tuần, bạn cũng có thể thấy được sự thay đổi rõ rệt.

Hạnh phúc từ những thăng trầm

Có một khoảng thời gian mọi người đã gọi tôi là người hạnh phúc nhất, nhưng đó chỉ là một trò đùa. Thật ra, chúng ta không thể biết được mức độ chính xác của hạnh phúc thông qua khoa học thần kinh. Đó chỉ là một tiêu đề để các nhà báo sử dụng, nhưng bản thân tôi cũng không thể bác bỏ nó. Có lẽ trên ngôi mộ của tôi sau này, người ta sẽ khắc dòng chữ: “Người hạnh phúc nhất thế giới đã nằm lại nơi đây!”. Nhưng dù sao đi nữa, thì tôi cũng đã tận hưởng mọi khoảnh khắc trong cuộc sống của mình; dĩ nhiên, cũng có những lúc cực kỳ buồn bã, đặc biệt là khi bản thân phải chứng kiến những hoàn cảnh éo le và đau khổ từ thế giới quanh mình.

Tuy nhiên, những điều đó cũng sẽ khơi dậy lòng trắc ẩn của bạn, từ đó, khiến bạn quyết định sống một cuộc đời mạnh mẽ hơn, lành mạnh hơn và ý nghĩa hơn. Đó cũng là những gì mà tôi gọi là hạnh phúc. Hạnh phúc không có nghĩa là bạn luôn phải nhảy cẫng lên vì vui vẻ và thích thú, mà hạnh phúc chính là căn bản đời sống của bạn. Trải qua bao nhiêu buồn vui, thăng trầm, bạn sẽ cảm nhận được hạnh phúc vì những nhìn nhận sâu sắc về tất cả mọi thứ. Chúng ta thậm chí còn có thể nhận thức một cách sâu sắc hơn những điều xấu xa của cuộc đời hay nỗi khổ niềm đau của người khác, nhưng chúng ta vẫn giữ một ý thức về hạnh phúc theo một cách nào đó. Đây chính là điều tuyệt vời mà thiền tập mang lại.

Chúng ta có thể cảm thấy buồn nếu chúng ta chứng kiến những sự đau khổ, nhưng buồn không mâu thuẫn với trạng thái Niết-bàn. Nỗi buồn nên đi kèm với lòng từ bi và quyết tâm khắc phục nguyên nhân của đau khổ. Đau khổ khác với tuyệt vọng. Tuyệt vọng giống như bạn đang ở dưới đáy hố, không có một lối thoát nào cho bạn. Đó lại là chủ nghĩa định mệnh. Nhưng đau khổ đến từ nguyên nhân và điều kiện. Đó lại là vô thường, vì vậy nên có thể thay đổi và chuyển hóa được.

Cảm xúc cũng giống như bất cứ bối cảnh tinh thần nào của chúng ta, chúng có thể thay đổi. Chúng ta có thể nắm rõ quá trình thay đổi của cảm xúc và phát hiện nó ngay lúc nó khởi lên. Cũng giống như khi bạn phát giác ra một kẻ móc túi trong phòng, bạn sẽ hô lên: “Aha, mọi người hãy cẩn thận!”.

Một lần ở New York, khi tôi đang tham dự một lễ ra mắt cuốn sách của mình, một nữ nhà báo rất tử tế đã hỏi tôi: “Điều gì thực sự khiến thầy khó chịu khi thầy đặt chân đến New York?”. Tôi trả lời: “Tại sao cô nghĩ rằng có điều gì đó khiến tôi khó chịu?”. Thật ra, không quan trọng là có chuyện gì đó khiến bạn lo lắng và khó chịu hay không, mà cách bạn nhìn nhận và xử lý vấn đề để ra kết quả mới là điều đáng quan tâm.

Diễn viên Paul Ekman đã từng yêu cầu tôi kể lại tình trạng lúc tôi thực sự tức giận. Và kết quả là tôi đã phải quay trở về 20 năm trước. Lúc đó, lần đầu tiên tôi có một chiếc máy tính xách tay mới. Ở Bhutan, vị thầy đó đã không hề biết nó là cái gì và thầy ấy đã dẫm lên nó trong khi đang bê một bát đựng đầy bột lúa mạch nướng và còn đổ một ít lên đó. Ngay lập tức, tôi nổi điên lên và nhìn chằm chằm vào thầy ấy. Thầy cũng nhìn tôi và cười: “Ha-ha, thầy đang tức giận kìa!”. Vậy đó, tôi lúc nào cũng tức tối về những điều cần được khắc phục. Vì thế, có thể nói rằng sự tức giận có thể liên quan đến tình thương, nhưng đồng thời nó cũng có thể xuất phát từ ác ý.

Sau hơn 2.500 năm kiểm nghiệm bằng các phương pháp tu tập, chuyển hóa của Phật giáo, và 40 năm nghiên cứu thông qua các khoa thần kinh hiện đại, mọi bằng chứng đều cho thấy rằng chúng ta có thể thay đổi bản thân mình. Không phải ngay khi được sinh ra, bạn đã biết tạo nên những cột mốc nhất định của đời mình. Tất cả đều là do thành quả của sự nỗ lực không ngừng nghỉ. Vậy tại sao những phẩm chất căn bản của con người đã được xác định lại là bất di bất dịch ngay từ khi mới chào đời? Có lẽ đó hoàn toàn là ngoại lệ đối với tất cả các kỹ năng mà chúng ta có được.

Và đó cũng là lý do tại sao tôi rất thích quan điểm của Richard Davidson, một giáo sư tâm lý học và tâm thần học tại Đại học Wisconsin. Ông cho rằng hạnh phúc là một kỹ năng, vì vậy, nếu được rèn luyện và trau giồi, nó sẽ trở nên sâu sắc hơn và hiện diện nhiều hơn trong tâm trí của bạn. Chúng ta phải chạy theo tâm trí mình từ sáng đến tối, nhưng lại dành quá ít thời gian để cải thiện và chuyển hóa cách mà chúng ta phản ứng với các điều kiện bên ngoài, tốt hay xấu, thành hạnh phúc và khổ đau. Điều này cực kỳ quan trọng, bởi vì đó là điều quyết định trải nghiệm và cảm nhận hàng ngày của chúng ta về thế giới.


Tác giả Matthieu Ricard 


+++là một tu sĩ Phật giáo, Thầy cũng là tác giả của những cuốn sách best-seller. Hàn Quốc hoàn thành bộ Bách khoa toàn thư Phật giáo lớn nhất thế giới do thầy soạn.Thầy cũng là phiên dịch viên tiếng Pháp của Đức Dalai Lama và có bằng tiến sĩ về di truyền tế bào. Vào đầu những năm 2000, các nhà nghiên cứu Đại học Wisconsin đã phát hiện ra rằng bộ não của thầy Ricard phát ra sóng gamma (một loại sóng não có liên quan đến việc học tập, nghiên cứu, tập trung và trí nhớ) ở mức độ đáng kể rõ ràng đến mức các phương tiện truyền thông gọi thầy là “người hạnh phúc nhất thế giới”.

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2024

Lòng biết ơn là cánh cửa mở ra hạnh phúc và bình yên.

Lòng biết ơn là một khái niệm đơn giản nhưng mang ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống. Nhiều người chỉ nghĩ đến lòng biết ơn khi nhận được một ơn huệ lớn lao nào đó, và đôi khi, chúng ta quên bày tỏ lòng biết ơn đối với những người thân yêu hay những người xung quanh. Theo từ điển Oxford, "gratitude" (lòng biết ơn) là cách chúng ta đáp lại sự trân trọng và lòng tốt mà người khác dành cho mình.

Thực tế, lòng biết ơn chỉ đơn giản là nhận thức được những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Khi có lòng biết ơn, chúng ta đồng ý với cuộc sống, khẳng định rằng cuộc đời, trong tổng thể, là đáng sống và chứa đựng những yếu tố mang lại niềm vui. Lòng biết ơn cũng là sự thừa nhận rằng ta đã nhận được những điều khiến ta hài lòng, không chỉ từ người khác mà từ cả thế giới xung quanh. Đặc biệt, chúng ta nhận ra rằng nguồn gốc của những điều tốt đẹp ấy không nằm trong bản thân mình. Chúng ta có thể biết ơn Đấng Sáng Tạo như Thượng Đế, Phật, Chúa ngay cả động vật và thế giới xung quanh, không chỉ là cảm giác tự hài lòng về bản thân.

Lòng biết ơn có thể xuất hiện từ những điều đơn giản như thưởng thức một tách cà phê ngon buổi sáng, chiêm ngưỡng hoàng hôn đẹp, có được một sức khỏe tốt hay nhận được nụ cười từ người thân yêu. Khi bạn sống lạc quan hoặc thực hiện những hành động có giá trị cho xã hội, đó cũng là biểu hiện của lòng biết ơn. Lòng biết ơn không chỉ là phản ứng tự nhiên khi ta nhận được điều gì đó tốt đẹp, mà còn là một thói quen có thể được rèn luyện và phát triển qua thời gian.

Chúng ta không sinh ra đã có lòng biết ơn, nhưng có thể luyện tập nó bằng những hành động như nói lời cảm ơn, bày tỏ sự trân trọng đối với những người đã giúp đỡ mình. Hãy học cách tha thứ cho những người đối xử không tốt với bạn và sẵn sàng cho đi mà không tính toán hay đố kỵ. Thực tập lòng biết ơn giúp chúng ta nhận ra và trân trọng những điều tốt đẹp trong cuộc sống.Từ đó nó mở ra cánh cửa cho niềm vui và sự thanh thản, giảm bớt căng thẳng và lo lắng. Biết ơn cũng giúp cải thiện mối quan hệ, khi chúng ta thể hiện sự đánh giá cao đối với người khác không những thế thực hành lòng biết ơn hàng ngày có thể dẫn đến sự thay đổi tích cực trong tư duy và thái độ sống.

Lòng biết ơn không chỉ là một cảm xúc, thái độ hay hành vi, mà còn là một nguyên tắc sống có ý nghĩa sâu sắc. Nó là một phần của nhiều nền văn hóa và truyền thống tinh thần trên khắp thế giới, được xem là một đức tính quý báu. Nó mang lại nhiều lợi ích cho bản thân, cho những người xung quanh và cho cả xã hội. Vì vậy, hãy rèn luyện lòng biết ơn mỗi ngày và để nó trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của bạn. Khi làm được điều này, bạn sẽ khám phá ra những giá trị và niềm hạnh phúc bền vững mà lòng biết ơn mang lại. Chúc bạn luôn vững bước trên hành trình nuôi dưỡng và phát triển lòng biết ơn của mình.


Thiên Lan

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2024

Phép lạ trong đạo Phật

Chúng ta thường nghe về "phép lạ," nhưng trong đạo Phật, không có gì thực sự là phép lạ cả. Mọi thứ đều diễn ra tự nhiên theo duyên hợp và duyên tan. Vậy, phép lạ là gì? Đối với người bình thường, những chuyện như bay xuyên không, độn thổ, hay đi trên mặt nước có thể được xem là phép lạ. Nhưng theo quan điểm của đạo Phật, tất cả đều do phước duyên tạo nên. Khi đủ duyên, những điều ấy có thể xảy ra, và khi không đủ duyên, chúng không thể thành hiện thực.

Trên thế giới, có người vất vả cả ngày mà không kiếm được một đồng, nhưng cũng có người tiêu tốn hàng ngàn đồng chỉ trong một buổi mua sắm. Điều này, đối với người khác, có thể là chuyện lạ, nhưng thực chất nó chỉ là kết quả của duyên nghiệp.

Mot ví dụ, khi tái sinh làm chim thì sẽ bay, làm cá thì bơi, làm côn trùng thì sống dưới đất. Đó là điều tự nhiên, không phải phép lạ. Ngay cả việc con người tạo ra máy bay để bay trên trời cũng không phải là phép lạ, mà chỉ là duyên hợp mà thành.

Theo lời Phật dạy, phép lạ thực sự là khả năng buông bỏ. Buông bỏ những thứ mà người đời thường bám víu vào như sức khỏe, tiền bạc, danh vọng, và tình yêu. Khi học được sự buông bỏ, ta sẽ bắt đầu trân trọng giá trị tinh thần, yêu thích sự giản dị, tránh xa đám đông và tìm kiếm sự tĩnh lặng.

Những người nghiên cứu khoáng chất cho rằng những thứ hiếm có và quý giá thường chỉ tìm thấy ở những nơi thanh vắng như sa mạc hay rừng sâu. Cũng tương tự, người muốn đạt được giác ngộ cần phải tìm đến những nơi tĩnh lặng để tu tập và phát triển giá trị tâm linh. Những tác phẩm lớn về thơ ca, văn học, hay kiến trúc cũng thường được sáng tạo khi người nghệ sĩ sống độc cư, tìm kiếm sự yên bình trong tâm hồn.

Phép lạ trong đạo Phật là sự nhìn nhận lại giá trị của cuộc sống: coi nhẹ những điều ta từng coi trọng và coi trọng những điều ta từng xem nhẹ. Đạo Phật dạy chúng ta biết làm bốn phép tính đơn giản: biết cái gì cần cộng, cái gì cần trừ, cái gì cần nhân, và cái gì cần chia. Thiện pháp thì cần cộng và nhân; ác pháp thì cần trừ, và tình thương thì cần chia sẻ.

Khi sống chánh niệm, ta sẽ hiểu rằng cuộc đời chỉ xoay quanh hai trạng thái: thiện và ác, buồn và vui. Thiện ở đời này là nhân cho niềm vui ở đời sau, ác ở đời này là nhân cho khổ đau ở đời sau. Niềm vui hiện tại là kết quả của thiện nghiệp từ đời trước, và khổ đau hiện tại là quả báo từ quá khứ. Mọi đau đớn, sợ hãi, hay giận hờn đều đến rồi đi, bởi tất cả đều do duyên hợp mà thành và rồi sẽ tan biến. Chúng ta không thể khiến dòng sông chảy ngược, nhưng có thể hiểu bản chất của từng giọt nước trong dòng sông. Đó chính là nhận thức về vô thường – không thể biến những gì vô thường thành thường hằng.

Đức Phật trong Kinh Bổn Sanh, có một câu nói mà tôi rất tâm đắc đó là câu "Này các tì kheo, trong nhiều tiền kiếp ta đã đi tìm cốt lõi trong pháp hữu vi, nhưng ta không thấy trong đó có thứ cốt lõi nào hết  và cứ thế ta dấn bước trên con đường giải thoát" nghĩa là trong nhiều kiếp sống, Đức Phật đã tìm kiếm sự thật và ý nghĩa trong thế giới hữu vi – tức là thế giới của các hiện tượng vật chất, những gì có hình tướng, tồn tại trong thời gian và không gian, và chịu sự thay đổi. Thế giới hữu vi bao gồm tất cả những gì mà chúng ta có thể cảm nhận bằng giác quan: thân xác, tài sản, danh vọng, tình cảm, và những thứ tương tự. Tuy nhiên, Đức Phật nhận ra rằng tất cả những thứ này đều không bền vững, không có "cốt lõi" hay bản chất vĩnh viễn, bởi chúng đều nằm trong quy luật vô thường – chúng sinh ra, tồn tại và cuối cùng biến mất.

Việc "dấn bước trên con đường giải thoát" chính là hành trình mà Đức Phật đã chọn sau khi nhận ra rằng thế giới hữu vi không thể mang lại hạnh phúc hay sự an lạc chân thật. Ngài đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, tức là từ bỏ cuộc sống xa hoa, danh vọng và địa vị, để theo đuổi một điều mà thế giới không thể ban tặng – đó là sự giải thoát khỏi khổ đau và vòng luân hồi.

Điểm thú vị trong đoạn này là Đức Phật từ bỏ cái lớn (cung vàng điện ngọc, những giá trị vật chất, danh vọng lớn trong mắt thế gian) để đi tìm cái nhỏ (sự giải thoát, thứ mà có lẽ ít người chú ý đến, nhưng thực chất là cái giá trị cao nhất). Sự "nhỏ" ở đây không phải là không quan trọng, mà là nó nằm ở bên trong tâm hồn, là điều mà người ta thường không để ý trong cuộc sống đầy cám dỗ và danh vọng. Đó là con đường dẫn tới sự giác ngộ, thoát khỏi những ảo tưởng và khổ đau của thế giới.

Phép lạ ở đây chỉ là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc buông bỏ những gì không vĩnh viễn, không thật sự mang lại hạnh phúc bền lâu, và hướng đến việc tìm kiếm sự giải thoát nội tại – điều cốt lõi nhất trên con đường tu tập để thoát ra khỏi vòng luân hồi của kiếp sống.


Thứ Hai, 7 tháng 10, 2024

10 điều tâm niệm của đạo Phật

 


10 điều tâm niệm của đạo Phật  phù hợp với tinh thần sâu sắc. Bạn cùng tôi chiêm nghiệm :


1-Về thân thể: Đừng mong tránh khỏi mọi bệnh tật, vì chính qua bệnh tật, chúng ta học cách buông bỏ sự dính mắc vào thân xác và phát triển lòng từ bi cho bản thân và người khác.


2-Về cuộc đời: Đừng cầu cuộc sống không có khó khăn, vì chính qua thử thách, tâm hồn mới được rèn giũa và biết trân quý những giây phút bình yên.


3-Về tâm linh: Đừng mong tâm trí luôn trong sáng, vì chính những vướng mắc trong lòng giúp ta hiểu sâu hơn về bản chất khổ đau và sự giải thoát.


4-Về sự nghiệp: Đừng hy vọng con đường đạt đến thành công luôn bằng phẳng, vì chính những khó khăn sẽ giúp ta phát triển lòng kiên trì và tầm nhìn xa.


5-Về công việc: Đừng mong mọi việc đều dễ dàng thành công, vì nếu quá dễ dàng, ta sẽ dễ rơi vào kiêu ngạo và thiếu sự biết ơn.


6-Về giao tiếp: Đừng luôn tìm kiếm lợi ích cho bản thân trong các mối quan hệ, vì khi đó ta có thể đánh mất đạo đức và lòng vị tha.


7-Về ứng xử với người: Đừng mong mọi người luôn đồng ý với mình, vì sự đồng thuận dễ dẫn đến tự mãn, và ngăn chặn sự học hỏi lẫn nhau.


8-Về làm ơn: Đừng mong nhận lại đền đáp khi giúp đỡ người khác, vì lòng vị tha chỉ thực sự trọn vẹn khi không có sự mong cầu.


9-Về thấy lợi: Đừng vội tham gia khi thấy lợi ích trước mắt, vì lòng tham dễ làm mờ lương tâm và dẫn đến những quyết định sai lầm.


10-Về oan ức: Đừng tìm cách biện minh cho những điều oan ức, vì sự giải thoát thực sự đến từ việc hiểu rõ và buông bỏ, thay vì kéo dài sự hận thù.


Những điều tâm niệm này nhấn mạnh vào việc chấp nhận khó khăn, buông bỏ mong cầu, và phát triển trí tuệ qua việc đối diện với thử thách của cuộc sống.

Vua Khang Hy

Mặc dù lên ngôi khi còn rất nhỏ, nhưng vua Khang Hy đã nhanh chóng chứng tỏ mình là một vị vua tài năng, với sự thông minh và kiên nhẫn. Sau khi trưởng thành, ông đã tự mình nắm quyền và có một trong những triều đại thành công và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Quốc. Chúng ta hảy cùng suy ngẩm phong cách làm việc của vị vua tài giỏi này.    

Khang Hy lên ngôi khi mới 7 tuổi vào năm 1661 do cha ông, Hoàng đế Thuận Trị, qua đời sớm ở tuổi 23. Đây là một sự kiện bất ngờ và có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc Khang Hy, dù còn rất nhỏ, phải lên ngôi kế vị.

Dưới đây là các yếu tố chính giải thích tại sao vua Khang Hy lên ngôi khi mới 7 tuổi:

Hoàng đế Thuận Trị qua đời sớm:

Thuận Trị là vị hoàng đế thứ ba của triều đại nhà Thanh và là vị hoàng đế đầu tiên cai trị Trung Quốc từ Bắc Kinh. Ông qua đời vì bệnh đậu mùa vào năm 1661. Sau khi ông qua đời đột ngột, việc truyền ngôi trở nên cấp bách. Con trai cả của Thuận Trị (người con lớn nhất) cũng qua đời sớm, nên con trai thứ ba, Khang Hy, là người được chọn.

Truyền thống kế vị của nhà Thanh:

Nhà Thanh tuân theo quy tắc kế vị trong hoàng tộc, và Khang Hy là con trai hợp pháp duy nhất còn sống sót vào thời điểm đó của hoàng đế Thuận Trị và hoàng hậu Hiếu Khang Trương. Mặc dù Khang Hy chỉ mới 7 tuổi, nhưng ông vẫn là người hợp pháp và phù hợp nhất để kế vị ngai vàng theo luật lệ thời bấy giờ.

Sự quản lý của các nhiếp chính:

Do Khang Hy còn quá nhỏ để cai trị, nên một nhóm nhiếp chính do Tứ đại phụ chính đứng đầu, gồm các đại thần quyền lực, được thành lập để điều hành đất nước trong giai đoạn đầu. Người nổi bật nhất trong số đó là Ái Tân Giác La Sách Ni, một trong những đại thần trung thành của triều đình. Những người này đã giúp duy trì ổn định cho nhà Thanh trong những năm Khang Hy còn nhỏ.

Ảnh hưởng của Hoàng thái hậu:

Hoàng thái hậu Hiếu Khang Trương, mẹ của Khang Hy, có vai trò quan trọng trong việc duy trì quyền lực và bảo vệ con trai bà trước các âm mưu chính trị trong cung đình. Bà cùng các quan đại thần đã bảo vệ ngai vàng cho Khang Hy, giúp ông vượt qua những năm đầu khó khăn.

Tổ chức đất nước

Cách cai trị của vua Khang Hy được đánh giá là thông minh, khéo léo và có tầm nhìn chiến lược. Ông không chỉ là một vị vua tài giỏi trong việc điều hành đất nước mà còn có khả năng xử lý các mối quan hệ nội bộ và đối ngoại một cách hiệu quả. Dưới đây là những điểm nổi bật trong cách cai trị của Khang Hy:

1. Khôi phục và củng cố quyền lực trung ương

Loại bỏ các thế lực chống đối: Khi Khang Hy lên ngôi, nhà Thanh vẫn phải đối mặt với sự phản kháng từ các thế lực nổi loạn và địa phương, nổi bật là cuộc nổi dậy của Ngô Tam Quế và hai tướng lĩnh khác (tạo thành thế lực "Tam phiên"). Những người này có quyền lực lớn, kiểm soát phần lớn lãnh thổ phía nam Trung Quốc. Khang Hy đã dẹp yên cuộc nổi dậy này thành công, tái lập trật tự và củng cố quyền lực trung ương của triều đình.

Xử lý các nhiếp chính: Trong những năm đầu, do còn nhỏ tuổi, Khang Hy phải dựa vào các nhiếp chính để điều hành đất nước. Khi trưởng thành, ông nhanh chóng tìm cách loại bỏ Áo Bố Nại, một trong những quan nhiếp chính có nhiều tham vọng, để tự mình nắm quyền.

2. Phát triển kinh tế và khuyến khích nông nghiệp

Phát triển nông nghiệp: Vua Khang Hy đặc biệt chú trọng phát triển nông nghiệp, bởi nông nghiệp là nền tảng kinh tế chủ yếu của đất nước vào thời điểm đó. Ông đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích sản xuất, giảm thuế cho nông dân trong những năm gặp thiên tai, đồng thời khôi phục và duy trì hệ thống thủy lợi.

Giảm thuế: Khang Hy đã giảm thuế cho người dân nhiều lần, đặc biệt là giảm nhẹ gánh nặng cho tầng lớp nông dân, giúp họ có điều kiện phát triển sản xuất và ổn định đời sống.

3. Khuyến khích văn hóa, giáo dục và Nho giáo

Tôn sùng Nho giáo: Khang Hy là một hoàng đế tôn sùng Nho giáo. Ông thường xuyên triệu tập các học giả và triết gia Nho giáo vào triều đình để giảng giải kinh điển Nho giáo và khuyến khích sự học. Điều này góp phần tạo nên một xã hội với nền tảng đạo đức và giáo dục vững chắc.

Biên soạn từ điển và sách vở: Khang Hy cho biên soạn các bộ sách lớn, trong đó nổi bật là Khang Hy tự điển, một trong những cuốn từ điển chữ Hán nổi tiếng nhất và được sử dụng rộng rãi. Ông cũng tài trợ cho nhiều dự án văn học, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa của Trung Quốc.

4. Phát triển quân sự và mở rộng lãnh thổ

Dẹp loạn và mở rộng lãnh thổ: Khang Hy đã tiến hành nhiều chiến dịch quân sự thành công, trong đó có việc dẹp loạn Ngô Tam Quế, ổn định phía nam, và bình định Đài Loan. Ngoài ra, ông còn tiến hành chiến dịch chống lại các cuộc xâm nhập của Nga ở phía bắc, ký kết Hiệp ước Nhi Tư Khắc (Nerchinsk) với Đế quốc Nga, tạo ra biên giới ổn định cho nhà Thanh.

Đánh bại người Mông Cổ và Tây Tạng: Khang Hy cũng đã giành chiến thắng trước các thế lực Mông Cổ ở phía tây và bảo vệ Tây Tạng khỏi các cuộc xâm lược từ các bộ lạc du mục.

5. Chính sách đối ngoại cẩn trọng

Quan hệ với phương Tây: Khang Hy có thái độ cởi mở với các nhà truyền giáo Dòng Tên đến từ phương Tây. Ông không chỉ học hỏi kiến thức về khoa học, thiên văn, và địa lý từ họ, mà còn cho phép họ giảng dạy và truyền bá đạo Thiên Chúa một cách hạn chế. Các nhà truyền giáo Dòng Tên đã đóng góp vào việc truyền bá kiến thức khoa học phương Tây và trở thành cầu nối giữa Trung Quốc và châu Âu trong thời kỳ này.

Duy trì ổn định đối với các quốc gia láng giềng: Dưới thời Khang Hy, nhà Thanh giữ được mối quan hệ hòa bình và ổn định với các nước láng giềng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và văn hóa.

6. Kiểm soát tham nhũng

Khang Hy đã thực hiện nhiều chính sách nhằm hạn chế nạn tham nhũng trong triều đình và chính quyền địa phương. Ông chú trọng đến việc sử dụng những quan lại trung thực, tài giỏi, và thường xuyên tiến hành các cuộc điều tra, thanh tra nhằm phát hiện và trừng trị quan tham.

7. Sự lãnh đạo kiên định và có tầm nhìn

Vua Khang Hy nổi tiếng là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn dài hạn, không chỉ giải quyết các vấn đề trước mắt mà còn đặt nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Ông có khả năng lãnh đạo kiên định, nhưng cũng rất linh hoạt trong việc xử lý các vấn đề phức tạp, giúp triều đại của ông kéo dài và ổn định.

Tổng kết:

Vua Khang Hy đã cai trị đất nước với sự kết hợp giữa tầm nhìn chiến lược, sự thông minh và lòng quyết đoán. Ông không chỉ dẹp loạn, mở rộng lãnh thổ, và củng cố quyền lực của nhà Thanh mà còn phát triển kinh tế, khuyến khích văn hóa, và xây dựng một xã hội ổn định. Triều đại Khang Hy thường được coi là thời kỳ hoàng kim của triều đại nhà Thanh, với sự thịnh vượng và ổn định kéo dài suốt nhiều thập kỷ.


Thiên Lan sưu tầm


Vua Khang Hy chính là người cai trị rất giống TT Trump 

Nhu Cầu Sống

 Chúng ta thường thắc mắc về nguyên nhân gây ra bệnh tật. Theo lời dạy của Phật, bệnh tật sinh ra do sự bất hòa của tứ đại (đất, nước, gió, lửa). Ngày nay, thế giới cũng đang trải qua những khủng hoảng lớn như chiến tranh lan tràn, đại dịch Covid-19, động đất ở Nhật Bản và Đài Loan, sóng thần ở Ấn Độ, và nhiều thảm họa thiên nhiên khác giáng xuống khắp nơi. Trước những biến động này, chúng ta không khỏi lo âu về cuộc sống và tự hỏi: "Nhu cầu sống thực sự của chúng ta là gì?"

Nếu chúng ta nhìn vào đời sống của một nhà tu hành, sẽ thấy rằng nó vô cùng đơn giản, như được định nghĩa trong kinh Phật:

"Ly gia bát ái, nhục thân bất nhận" — tức là buông bỏ sáu mối tình cảm thông thường như cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em. Về mặt tâm linh, các tỳ kheo phải giữ gìn tam học: giới, định, và tuệ. Về mặt vật chất, nhu cầu chỉ gói gọn trong bốn vật dụng thiết yếu: y áo, thực phẩm, thuốc men, và nơi cư ngụ. Đức Phật dạy rằng chỗ ở của một nhà sư có thể đơn giản chỉ là dưới gốc cây hay một nơi trú ẩn trong rừng, không cần phải là nhà cửa khang trang.

Đó là đời sống của một vị chân tu, khác xa với nhiều nhà sư hiện nay, những người đang sống trong sự xa hoa nhờ lòng hảo tâm của phật tử. Còn đối với người bình thường, nhu cầu vật chất của chúng ta cũng nên đơn giản hóa. Càng ít nhu cầu vật chất, chúng ta càng có thể tập trung vào đời sống tâm linh. Để phát triển bốn yếu tố cần thiết cho đời sống tâm linh, chúng ta có thể hiểu chúng theo những cách sau:

Thực phẩm: Thực phẩm không chỉ là những gì chúng ta ăn mà còn là những gì chúng ta nghe, đọc, suy nghĩ, và những mối quan hệ mà chúng ta duy trì. Tứ thực là các loại thực phẩm vật chất và tinh thần giúp nuôi dưỡng cơ thể và tâm hồn. Không cần ăn ngon, chỉ cần ăn lành mạnh, có chọn lọc. Câu nói "Ăn cái gì cũng ngon là tốt, nhưng thấy cái gì ngon cũng ăn thì không nên" là một lời khuyên đáng suy ngẫm. Thức ăn tinh thần cũng phải được lựa chọn kỹ lưỡng hơn, bởi một nội tâm không có trí tuệ và chánh kiến sẽ dễ dàng bị lung lay bởi những cám dỗ từ bên ngoài.

Y phục: Không chỉ là áo quần che thân, y phục còn là hình ảnh bề ngoài, thái độ và hành vi mà người khác nhìn thấy ở chúng ta. Y phục tượng trưng cho khẩu nghiệp và thân nghiệp. Khi chúng ta không nói những lời làm tổn thương người khác mà chỉ đem lại niềm vui, khi chúng ta ăn mặc kín đáo, gọn gàng, không phản cảm, thì đó là một “tấm áo đẹp” cho chính mình.

Nơi ở: Nơi ở là không gian sống mà chúng ta lựa chọn. Hãy tìm đến những nơi thoáng đãng, gần gũi với thiên nhiên, nơi chúng ta có thể gặp gỡ những người bạn đồng hành tốt trên con đường tâm linh.

Thuốc men: Thuốc men giúp chữa trị khi cơ thể bệnh tật, nhưng cũng cần lưu ý đến "thuốc" cho tâm hồn. Những căn bệnh tâm lý như tham lam, kiêu ngạo hay sợ hãi cũng cần được chữa trị. Ví dụ, tham lam quá mức là “ung thư tâm hồn”, thích lời khen ngợi là “bệnh tiểu đường tâm lý”, còn lo sợ bị chỉ trích là “bệnh cao huyết áp của tâm trí”.

Do đó, nhu cầu sống không chỉ là chọn lọc thực phẩm cho cơ thể mà còn là chọn lựa những gì nuôi dưỡng tâm hồn. Khi ngồi vào bàn ăn, chúng ta cần phải chọn những thức ăn lành mạnh cho sức khỏe. Tương tự, thức ăn cho tâm hồn cũng đòi hỏi chúng ta phải cẩn trọng với những gì chúng ta đọc, suy nghĩ, và những người chúng ta tiếp xúc  có lợi hay có hại cho đời sống tinh thần của mình , để giữ cho đời sống tinh thần luôn lành mạnh và bình an.


Thiên Lan 

Viết lại theo lời giảng của sư Toại Khanh. Nguyên văn bài giảng đã đăng trong web của sư

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

Khái niệm về "Buông Bỏ " trong đạo Phật


Như chúng ta đã hiểu một chút về khái niệm của sự vô minh trong Tứ Diệu Đế, chính là phát sinh sáu khuynh hướng: ham muốn, sân hận, u mê, phân tán, si mê, và tỉnh thức. Những khuynh hướng này dẫn đến hai lối sống: đời sống bất thiện và đời sống thiện.

Sống Bất Thiện:

Sống bất thiện là gì? thí dụ là có hai người đều bất thiện và thiếu tu tập, nhưng một người luôn sống trong bất mãn (sân hận, si mê, phiền não, xung đột), và người kia sống trong sự chấp trước, luôn tìm kiếm, đuổi theo, tích lũy. Sống bất thiện của hai người này có hai hình thức chính: một là bất mãn chiếm ưu thế, và hai là chấp trước và tích lũy là trọng tâm. Cả hai đều là dạng sống bất thiện.

Sống Thiện là gì : Sống thiện cũng có hai con đường: hướng nội và hướng ngoại.


Sống thiện hướng nội là thực hiện các hành động tốt và nuôi dưỡng đức hạnh, nhưng với mục tiêu hưởng lợi ích như sống lâu, khỏe mạnh, sắc đẹp, trí tuệ, và danh vọng trong những kiếp sau. Đây là thiện, nhưng vẫn bị ràng buộc bởi sự ham muốn lợi ích cá nhân. Điều này được gọi là tu thiện hướng nội, vì nó nhắm đến mang lại lợi ích cho bản thân.

Sống thiện hướng ngoại thì khác, đó là thực hiện các hành động thiện không phải để tái sinh hay hưởng lợi ích cá nhân, mà để giảm bớt sự chấp trước và ham muốn. Người sống thiện hướng ngoại là bố thí không phải để trở nên giàu có, mà là để mài mòn tính keo kiệt và sở hữu bên trong. Mục tiêu là nới lỏng cái tôi—cảm giác về "tôi" và "của tôi" chính là  buông bỏ sự chấp trước.

Đức Phật dạy rằng có bốn loại bố thí:

Bố thí để cầu phước,

Bố thí vì thói quen,

Bố thí vì áp lực xã hội, và bố thí để luyện tâm và mài mòn phiền não.

Chúng ta đã trải qua vô số kiếp sống trong việc tích lũy và nhận lãnh, vì vậy học cách buông bỏ là một thực hành sâu sắc và cần thiết.

Khái Niệm Buông Bỏ như thế nào?

Khi chúng ta nắm giữ, những gì chúng ta nhận được chỉ là những gì đôi tay hoặc cánh tay chúng ta có thể ôm lấy. Nhưng nếu chúng ta sống với tâm lý bám chặt và giữ lại, những kiếp sau của chúng ta sẽ bị đánh dấu bởi sự thiếu thốn, khan hiếm. Ngược lại, khi chúng ta buông bỏ, chúng ta mở rộng cánh cửa đến với sự sung túc.

Phước đức thực sự đến từ việc thực hành với tấm lòng vô biên, không bị giới hạn bởi sự ham muốn danh vọng hay lợi ích cá nhân. Khi chúng ta bố thí, chúng ta nên làm vì lợi ích của người khác, không phải cho bản thân. Bố thí với tấm lòng vô biên sẽ dẫn đến kết quả vô biên. Khi chúng ta bố thí mà không mong đợi những phần thưởng nhỏ, ngay lập tức, chúng ta đang chuẩn bị cho những lợi ích lớn hơn, lâu dài hơn. Chẳng hạn như chúng ta đang xây dựng một kiếp sau sung túc và hạnh phúc 

Cạm Bẫy Của Tư Duy Hẹp Hòi:

Ngược lại, khi chúng ta hành động với tư duy của một "người buôn bán nhỏ", chúng ta tự giới hạn mình. Hãy tưởng tượng một người chủ tiệm cố gắng bán hàng hóa kém chất lượng và sử dụng mánh khóe để bán được hàng. Tâm lý này, chỉ quan tâm đến lợi nhuận nhỏ, hạn chế sự phát triển của một người. Một nền kinh tế thực sự thành công, hoặc sự tu tập tâm linh, đòi hỏi một tầm nhìn rộng hơn, giống như những người ở phương Tây coi trọng danh tiếng hơn là lợi ích ngắn hạn.

Cũng vậy trong việc tu tập tâm linh. Khi chúng ta bố thí, giữ giới, và thiền định với tâm lý chỉ tập trung vào việc đạt được lợi ích cá nhân, kết quả sẽ nhỏ bé. Tuy nhiên, khi chúng ta thực hành với trái tim rộng mở, không bị ràng buộc bởi ham muốn, phước đức sẽ to lớn và lan tỏa.

Chìa Khóa của Sự Buông Bỏ:

Trong hành trình tìm kiếm sự an lạc và hạnh phúc, việc học cách buông bỏ đóng vai trò là chìa khóa quan trọng. Buông bỏ không chỉ giúp tâm hồn ta trở nên nhẹ nhàng, thanh thản mà còn mở ra không gian cho những niềm vui và sự bình yên mới. Khi ta buông bỏ được những áp lực, thể diện, quá khứ, và những suy nghĩ tiêu cực, ta tạo điều kiện cho bản thân mình phát triển và đón nhận những khả năng mới. Buông bỏ cũng là một hình thức của sự tự do, giải phóng ta khỏi những ràng buộc không cần thiết, giúp ta sống thực với chính mình và thế giới xung quanh. Nếu chúng ta chỉ tu tập để đạt được, đôi tay chúng ta vẫn đóng lại, liên tục nắm giữ.


Bạn hảy nhìn con khỉ , nó sẽ không thể nhảy sang nhánh cây mới nếu không buông bỏ nhánh cây cũ.


Thiên Lan biên soạn theo bài giảng của sư Toại Khanh


Các bạn có thể vào trang web của sư để đọc nguyên văn của bài giảng

TRÁNH TẠO THÊM NGHIỆP

Có một câu hỏi mà nhiều người trong chúng ta từng tự hỏi: Tại sao có những người cả đời chăm chỉ, sống tử tế nhưng khó khăn dường như cứ đeo...